Tìm kiếm
Một số điểm mới mang tính đột phá của Luật Bảo vệ môi trường 2020
Người đăng tin: Thủy Thị Ngọc Đoàn Ngày đăng tin: 08/02/2022 Lượt xem: 44

Luật Bảo vệ môi trường 2020 gồm 16 Chương, 171 Điều; chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, đơn vị quản lý, Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy những thay đổi mạnh mẽ trong tư duy bảo vệ môi trường (BVMT) thông qua thể chế hóa chính sách phát triển dựa trên quy luật tự nhiên, không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế.


1. Lần đầu tiên, cộng đồng dân cư được quy định là một chủ thể trong công tác BVMT

- Thời gian qua, cộng đồng dân cư đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong công tác BVMT, đặc biệt là trong công tác giám sát, phát hiện các hành vi xả thải không đúng quy định, nhân rộng các mô hình giảm thiểu, tái chế chất thải rắn sinh hoạt. Theo đó, Luật BVMT 2020 đã bổ sung “cộng đồng dân cư" vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm khẳng định vị trí, vai trò của nhóm đối tượng quan trọng này trong công tác BVMT cũng như thực hiện một trong những mục tiêu xuyên suốt của Luật là bảo vệ sức khỏe người dân, đảm bảo người dân được sống trong môi trường trong lành. Vai trò của cộng đồng dân cư trong BVMT được thể hiện nổi bật ở hoạt động: tham vấn môi trường và giám sát hoạt động xả thải.

(Tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư về tác động môi trường của các dự án tại KCN Hòa Khánh năm 2020)

- Ở góc độ tham vấn môi trường, Điều 33, Luật BVMT 2020 quy định trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn cộng đồng dân cư khi lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin quan trọng để chủ dự án nghiên cứu đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động của dự án đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo ĐTM của dự án. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép môi trường, Luật cũng quy định trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn ý kiến các bên có liên quan. Ngoài ra, lần đầu tiên Luật BVMT quy định việc công khai danh sách hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM, các biểu mẫu, tài liệu của hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo ĐTM. Các nội dung trên tuy chưa có Nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết, đã cho thấy sự tinh thần đổi mới, tiếp thu ý kiến cộng đồng dân cư trong quá trình thẩm định tác động môi trường của dự án.

- Ở góc độ giám sát xả thải, Luật BVMT 2020 đã bổ sung nguyên tắc hoạt động BVMT phải được công khai, minh bạch; quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin liên quan đến chất lượng môi trường không khí, chất lượng môi trường đất, chất thải nguy hại, kết quả quan trắc chất thải; chủ trương của Nhà nước là khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, cung cấp thông tin về môi trường; trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của chủ dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu sản xuất, kinh doanh tập trung, cụm công nghiệp trong việc cung cấp, công khai thông tin về môi trường. Hình thức công khai được thực hiện thông qua cổng thông tin của cơ quan, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.

Nhằm tạo thuận lợi cho cộng đồng dân cư phát huy được vai trò của mình trong công tác BVMT, Luật cũng đã bổ sung quy định thiết lập hệ thống trực tuyến tiếp nhận, xử lý, trả lời phản ánh, tham vấn của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư về BVMT, qua đó giúp cộng đồng dân cư tham gia giám sát hoạt động BVMT thông qua công nghệ thông tin, tương tác các ứng dụng thông minh trên điện thoại di động.

2. Thay đổi phương thức quản lý môi trường đối với dự án đầu tư theo các tiêu chí môi trường, cắt giảm thủ tục hành chính

Luật BVMT 2020 quy định tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư thành 04 nhóm: có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, có nguy cơ, ít có nguy cơ hoặc không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Tương ứng với từng đối tượng dự án cụ thể, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ áp dụng các cơ chế quản lý phù hợp. Trong đó, đối tượng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao (Nhóm I) phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường trong quá trình lập báo cáo đầu tư dự án.

Bên cạnh đó, Luật BVMT cũng đã cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính thông qua việc rút ngắn thời gian thẩm định Báo cáo ĐTM, tích hợp các giấy phép, giấy xác nhận về môi trường vào chung 01 Giấy phép môi trường và bãi bỏ các giấy phép có liên quan gồm: Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, giấy phép xử lý chất thải nguy hại, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, giấy phép xả nước thải vào công trình thủy lợi. Điểm d Khoản 2 Điều 42 Luật BVMT 2020 nêu rõ các doanh nghiệp đã được cấp các giấy phép trên (gọi tắt là Giấy phép môi trường thành phần) trước khi Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết thời hạn của giấy phép môi trường thành phần hoặc được tiếp tục sử dụng trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành trong trường hợp giấy phép môi trường thành phần không xác định thời hạn.

3. Định chế nội dung sức khỏe môi trường; bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ các thành phần môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước

Nội dung sức khỏe môi trường tuy không có quy định riêng nhưng đã được định chế trong toàn bộ Luật BVMT 2020, thông qua việc bảo vệ các thành phần môi trường, qua đó bảo vệ sức khỏe người dân, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. Luật đã bổ sung nội dung quản lý các chất ô nhiễm có tác động trực tiếp đến sức khỏe con người; quy định rõ trách nhiệm của Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh trong theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng như đánh giá mối quan hệ giữa sức khỏe môi trường với sức khỏe con người, đặc biệt là mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường với các loại bệnh dịch mới. Riêng ô nhiễm không khí và môi trường nước mặt đang là vấn đề bức xúc tại các lưu vực sông và đô thị lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay hành lang pháp lý chưa đầy đủ để quản lý chất lượng môi trường không khí, chất lượng môi trường nước và thực hiện các biện pháp ứng phó khẩn cấp với tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn.

Để giải quyết vấn đề bức xúc nêu trên, Luật BVMT 2020 đã quy định việc lập và thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt, môi trường không khí nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các thành phần môi trường; đồng thời quy định về tiêu chí và phân loại khu vực ô nhiễm môi trường đất, quy định nội dung về xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất.

Luật cũng đã quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí; đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin; cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm; tổ chức thực hiện biện pháp khẩn cấp trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng. Không chỉ được quy định ở các nội dung về bảo vệ chất lượng môi trường không khí, đất, nước, việc bảo vệ các thành phần môi trường này còn được thể hiện tại nhiều nội dung có liên quan trong Luật như các nội dung về quản lý nước thải, quản lý bụi, khí thải và các chất ô nhiễm khác cũng như các nội dung về quản lý chất thải rắn

4. Thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn; hướng đến kinh tế tuần hoàn

- Nhằm hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn, tăng cường tái chế, tái sử dụng phế liệu trong nước để hạn chế việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, Luật BVMT 2020 quy định từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm phân loại chất thải rắn công nghiệp thành các loại: (i) nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường được tái sử dụng, tái chế làm nguyên liệu sản xuất; (ii) nhóm chất thải rắn đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và san lấp mặt bằng; (iii) nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý. Đây cũng là lần đầu tiên, Luật BVMT đã quy định trách nhiệm mở rộng của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì có khả năng tái chế/khó có khả năng tái chế phải thu hồi với tỷ lệ và quy cách bắt buộc hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ hoặc cơ chế đóng góp tài chính để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì do mình sản xuất, nhập khẩu (Điều 54).

5. Cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển thị trường Carbon trong nước

Luật BVMT 2020 đã bổ sung các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, trong đó xác định nội dung và trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành liên quan và địa phương về thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bổ sung quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào hệ thống chiến lược, quy hoạch, thực hiện cam kết quốc tế về BĐKH.

 Đặc biệt, Luật BVMT 2020 đã lần đầu tiên chế định về tổ chức và phát triển thị trường Carbon như là công cụ để thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính trong nước, góp phần thực hiện đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính do Việt Nam cam kết khi tham gia Thỏa thuận Paris về BĐKH. Trong đó, quy định rõ đối tượng được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có quyền trao đổi, mua bán trên thị trường Carbon trong nước; căn cứ xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính; trách nhiệm của các cơ quan quản lý, tổ chức liên trong trong việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; lộ trình và thời điểm triển khai thị trường Carbon trong nước để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 và Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã có Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Trong thời gian đến, Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp sẽ phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng tài liệu, tổ chức tập huấn nhằm phổ biến các nội dung, quy định mới về BVMT đến các doanh nghiệp./.

Phòng QLMT-KHCN&ƯT - Ban Quản lý


TRỤ SỞ:

     Lô A17, đường Trung tâm, Khu công nghệ cao, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng

    0236 3666117           

    dhpiza@danang.gov.vn

   Điện thoại bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và Trả kết quả cho công dân, tổ chức: 0236.3666100.

©© Bản quyền của Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng

Giấy phép: Số 05/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng cấp ngày 02/01/2020

Trưởng Ban biên tập: Thái Ngọc Trung, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng

Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng" hoặc "www.dhpiza.danang.gov.vn" khi trích dẫn lại thông tin từ Website này.

Chung nhan Tin Nhiem Mang
Đăng nhập